Chức năng, nhiệm vụ

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ XÃ XUÂN LƯƠNG

02/04/2026 09:53 Số lượt xem: 10

Xuân Lương được thành lập theo Nghị quyết số 1658/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, trên cơ sở nhập 03 xã cũ (Xuân Lương, Canh Nậu và Đồng Tiến) thuộc huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang (cũ). Là xã miền núi của tỉnh Bắc Ninh, phía Đông tiếp giáp xã Thiện Tân tỉnh Lạng Sơn; phía Nam tiếp giáp xã Đồng Kỳ và xã Tam Tiến tỉnh Bắc Ninh; phía Tây tiếp giáp xã Trại Cau, tỉnh Thái Nguyên; phía Bắc tiếp giáp xã Tràng Xá, tỉnh Thái Nguyên.

 Diện tích tự nhiên: Xã có diện tích tự nhiên là 99,67 km2.

 Địa hình, thổ nhưỡng và khí hậu

Là xã miền núi có nhiều khe, suối nhỏ, hồ, đập, địa hình đồi núi dốc, chủ yếu là rừng. Địa hình bán sơn địa, chuyển tiếp giữa vùng núi thấp và trung du, xen kẽ là các dải đất bằng, bãi bồi ven sông và các thung lũng nhỏ. Có các đồi thấp và gò cao, độ cao trung bình dao động từ 20-80m, chủ yếu phân bố về phía Tây và Tây Bắc xã.

Phần lớn diện tích đất là đất đồi pha cát, đất phù sa cổ phù hợp cho trồng rừng, cây ăn quả lâu năm, cây công nghiệp ngắn ngày. Hệ thống sông, suối nhỏ và mạch nước ngầm phong phú, đóng vai trò quan trọng trong cung cấp nước tưới và sinh hoạt.

Xã nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, có bốn mùa rõ rệt, trong đó mùa hè nóng ẩm, mùa đông khô lạnh. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23-24°C. Lượng mưa trung bình năm từ 1.300-1.700 mm, tập trung chủ yếu vào các tháng 6-9. Độ ẩm không khí cao, trung bình khoảng 80-85%. Gió mùa Đông Bắc thường xuất hiện từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, ảnh hưởng đến sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp. Khí hậu thuận lợi cho nông nghiệp đa vụ, trồng lúa, hoa màu, cây ăn quả. Tuy nhiên, thời tiết thất thường vào giai đoạn chuyển mùa có thể ảnh hưởng đến năng suất và sinh hoạt người dân.

Dân số, dân tộc và bản: Tại thời điểm tháng 12/2024, toàn xã có 4.696 hộ dân, với 19.222 nhân khẩu; trong đó, hộ dân tộc thiểu số là 3.041 hộ, với 10.293 nhân khẩu, chiếm 53,55% dân số. Trên địa bàn xã có 19 dân tộc cư trú lâu đời sinh sống thành cộng đồng trên 36 bản (bao gồm dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Hoa, Sán Dìu, Dao, Cao Lan, Mường, Sán Chay, Mông, Thái, Khơ Me, Khơ Mú, Cơ Ho, H'rê, Pà Thẻn, La Ha, Xinh Mun, Thổ...). Toàn xã có 36 bản gồm: Đống Cao, Thia, Lò Than, Đồng Cả, Dốc Đơ, Ao Tuần, Gốc Dổi, Chay, Đồn , Khuôn Đống, Đình, Còn Trang, Nà Táng, Trại Sông, Xuân Môi, Na Lu, Làng Dưới, Nam Cầu, Mỏ, Tam Kha, Cầu Nhãn, Làng Trên, Đồng Gia, Đồng Gián, Nghè, Thượng Đồng, Ven, Xoan, Cây Vối, Gốc Bòng, Khe Ngọn, Cây Thị, Đồng An, Trại Mới, Trại Hạ, Trại Nấm.

 Độ cao trung bình của các bản: Độ cao trung bình của các bản là 213,74m, dao động từ 150m (thấp nhất ở bản Ao Tuần) đến 332,9m (cao nhất ở bản Đồng An).